Navdeep S Chandel (2014): “Mitochondria as signaling
organelles”, BMC Biology; 12: 34
Tóm tắt
Khoảng 20 năm trước, một nghiên cứu ghi nhận, cytochrome c
giải phóng từ ty thể có thể gây chết tế bào, đã khiến các nhà sinh học tế bào
thay đổi suy nghĩ về ty thể. Trước đây, bào quan này chỉ được xem là vị trí
sinh tổng hợp và sản xuất năng lượng cho tế bào, đến này, chúng ta ghi nhận bào
quan với màng kép lipid này là một bào quan điều hòa tín hiệu tế bào. Chỉ trong
vài năm, rất nhiều con đường tín hiệu lấy ty thể là trung tâm được khám phá,
bao gồm cả việc giải phóng gốc tự do chứa oxy (ROS) và các phức hệ tín hiệu
trên màng ngoài ty thể. Bên cạnh đó, khi ty thể bị mất hoạt động chức năng có
thể dẫn đến các đáp ứng stress, điều này cho thấy, có mối liên hệ giữa trạng
thái của ty thể với tế bào. Trong 10 năm, rất nhiều các chức năng tín hiệu của
ty thể được công bố, ví dụ như giải phóng các sản phẩm chuyển hóa, khả năng di
động của ty thể và các tương tác của nó với các bào quan khác như mạng lưới nội
chất. Các nghiên cứu này đã đưa ra những vai trò cả về sinh lý lẫn bệnh lý của
ty thể. Bài viết này sẽ tổng hợp lại những nghiên cứu gần đây về các con đường
tín hiệu phụ thuộc ty thể.
-----
Hans Krebs đạt giải Nobel về Sinh lý học và Y học năm 1953
cho khám phá của ông về chu trình citric acid. Trong buổi lễ trao giải, ông
phát biểu, ‘đây là chu trình cung cấp các chất trung giai hơn là cung cấp năng
lượng ở các vi sinh vật, trong khi ở các loài động vật và các sinh vật khác, nó
cung cấp cả năng lượng và các chất trung gian’. Câu nói này đã mô tả hai chức
năng quan trọng của ty thể, đó là: cung cấp ATP, và tạo ra các sản phẩm chuyển
hóa trung gian. Chu trình citric acid, hay còn được gọi tắt là chu trình TCA, tạo
ra các chất chuyển hóa và các chất khử (NADH và FADH2). Các electron từ các chất
khử này được chuỗi vận chuyển điện tử ty thể (ETC) sử dụng, kết hợp với các bơm
đẩy proton đi qua màng trong ty thể, tạo ra thế gradient electron, cần cho cả
quá trình tạo ATP và vận chuyển protein ra vào ty thể. Quá trình tạo ATP ở ty
thể duy trì tỷ lệ ATP/ADP ở mức cao, đây là điều kiện cần thiết để khống chế trạng
thái nhiệt động học cho các phản ứng sinh hóa. Ty thể cũng có khả năng tạo các
protein có chứa nhân heme và porphyrin. Các sản phẩm chuyển hóa được sinh ra từ
chu trình TCA là các chất khởi đầu cho phản ứng sinh tổng hợp các đại phân tử
như lipid, carbohydrate, protein và nucleotide. Do đó, ty thể được xem như một
bào quan tổng hợp năng lượng và vật chất cho tế bào, tuy nhiên, sự thay đổi về
cấu trúc protein có tác động mạnh đến hoạt động của chu trình TCA và ETC, cho
thấy sự xáo trộn của ty thể sẽ biểu hiện qua sự bất thường trong sinh tổng hợp
vật chất và năng lượng.
Hình 1: Vai trò của ty thể
Trong hai thập kỷ qua, một số điểm đã được làm sáng tỏ, càng
cho thấy mối liên hệ mất thiết giữa ty thể và các thành phần khác của tế bào
thông qua các sản phẩm chuyển hóa (Hình 1). Một chức năng quan trọng của các sản
phẩm này là đảm bảo thông tin liên lạc giữa tế bào và ty thể, nhằm giảm các sai
lệch giữa nhu cầu trao đổi chất của tế bào và khả năng đáp ứng của ty thể. Vào
những năm 1990, rất nhiều nhóm nghiên cứu đã có ý tưởng về các quá trình liên lạc
giữa ty thể với tế bào chất. Các hướng nghiên cứu chính gồm (1) cytochrome c giải
phóng từ ty thể có thể gây chết tế bào [1]; (2) ty thể giải phóng các gốc tự do
chứa oxy (ROS) để hoạt hóa các quá trình biểu hiện gene thiếu oxy [2]; (3) vị
trí của protein A-kinase-anchoring (AKAP) trên màng ngoài ty thể, cho phép
enzyme PKA (cAMP-dependent protein kinase) phosphoryl hóa các chất trên màng
ngoài ty thể [3,4]; và (4) tác động của quá trình mất hoạt động chức năng ty thể
đến các heat shock protein (HSP) và các phân tử
tín hiệu phụ thuộc canxi ở tế bào chất [5,6].
Nghiên cứu này hướng đến kết luận rằng ty thể là một bào
quan tín hiệu thông qua bài tiết các sản phẩm của nó như protein, ROS và các chất
chuyển hóa khác (Hình 2). Gần đây, các nhà khoa học đã làm sáng tỏ rất nhiều cơ
chế khác nhau liên quan đến con đường tín hiệu giữa ty thể và các thành phần
khác của tế bào. Các tín hiệu từ ty thể ra tế bào chất thường được gọi là tín
hiệu ngược, trong khi tín hiệu từ tế bào chất vào ty thể thường là các tín hiệu
xuôi, và đến những năm 1990, các nghiên cứu về tín hiệu xuôi mới chỉ ra dòng canxi
từ tế bào chất vào ty thể có tác dụng điều hòa quá trình tổng hợp năng lượng
[7]. Trong bài viết này, tôi sẽ bàn luận chủ yếu về các cơ chế tín hiệu ngược
mà đặc biệt là trong điều kiện sinh lý và bệnh lý.
Hình 2: Tín hiệu từ ty thể
Tín hiệu điều hòa Cytochrome c từ ty thể
Giữa những năm 1990, các nhà sinh học ngỡ ngành trước hệ
gene ty thể. Ty thể có chứa hệ gene của riêng nó và mã hóa cho một số protein
ty thể. Làm thế nào mà DNA ty thể và DNA nhân cso thể phối hợp để duy trì hoạt
động tế bào và nếu có sai lệch trong biểu hiện của 2 hệ DNA này thì dẫn đến
tình trạng bệnh lý thế nào [8]. Ngược lại, tôi linh cảm thấy câu hỏi liên quan
đến các phản ứng sinh hóa của ty thể sẽ sớm được giải quyết. Tôi đã lấy một bằng
tiến sỹ về sự phụ thuộc oxy của enzyme cytochrome c oxidase [9, 10] vì tôi tin
rằng có thể có những phản ứng sinh hóa thú vị trong điều kiện thiếu oxy, một điều
kiện đặc trưng của các khối u, các bệnh thiếu máu cục bộ và trong quá trình
phát triển in utero. Do đó, hoàn toàn bất ngờ khi Xiaodong Wang và cs (1996), với
hướng tiếp cận sinh hóa, đã ghi nhận cytochrome c được giải phóng từ ty thể có
thể gây chết tế bào động vật có vú [1]. Cytochrome c là một phân tử mang
electron trong ty thể và tham gia và chuỗi vận chuyển điện tử ty thể, và không
thể thiếu trong quá trình tạo ATP. Với tôi, đây là một phát kiến quan trọng
trong nghiên cứu về ty thể. Ty thể không chỉ thú vì vì các hoạt động sinh hóa
mà còn bỏi cách thức liên lạc giữa nó và các thành phần khác của tế nào. Sau
đó, rất nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới đã kiểm tra các cơ chế lý giải tại
sao khi cytochrome c được giải phóng, tế bào có thể chết [11-13]. Giả thiết dẫn
đến các thí nghiệm về chu trình tạo ATP, điện thế màng và lượng oxy tiêu thụ đến
quá trình tế bào chết. đây đều là các cơ chế đã biết, nhưng rõ ràng rằng, sợi
dây liên hệ giữa apoptosis và hiện tượng giải phóng cytochrome c của ty thể có
thể được lý giải bằng một cơ chế khác thông qua sự liên lạc giữa ty thể và tế
bào, đặc biệt là trong điều kiện sinh lý. Thật khó để tưởng tượng rằng ty thể lại
đóng vai trò như một bào quan tín hiệu và dẫn đến sự chết của tế bào.
Tín hiệu điều hòa ROS ty thể
Giữa những năm 1990, hoạt động của enzyme NADPH oxidase được
chứng minh là điều hòa các con đường tín hiệu trong chu trình tế bào thông qua
phản ứng oxi hóa các gốc cysteine của protein, từ đó điều khiển hoạt động của
các protein này [14-16]. Ngược lại, ROS ty thể (mROS) lại bị coi là chỉ được sản
xuất trong điều kiện bệnh lý và gây thương tổn cho tế bào [17]. Tuy nhiên, cuối
những năm 1990, mROS được coi là một phân tử tín hiệu quan trọng, liên lạc giữa
ty thể và tế bào ngay cả trong điều kiện sinh lý bình thường. Các tín hiệu ngược
trong điều kiện sinh lý lần đầu được ghi nhạn khi quan sát tế bào trong điều kiện
thiếu oxy, một điều kiện kích thích sản sinh ROS, làm thay đổi hoạt độ của các
yếu tố gây ra bởi trạng thái thiếu oxy (HIF) và kích thích các gene liên quan đến
đáp ứng với điều kiện thiếu oxy [2, 18]. Sau đó, mROS được chứng minh là tham
gia điều hòa chuyến hóa và là tín hiệu của thụ thể gây hoạt tử u [19-21]. Có tới 8 vị trí trên màng trong ty thể và chất
nền có thể sinh ra ROS [22]. Các yếu tố điều hỏa lượng mROS bao gồm nồng độ
oxy, trạng thái oxi hóa- khử của các phức hệ trong chuỗi vận chuyển điện tử và
điện thế màng ty thể [23]. Các nghiên cứu trong suốt một thập kỷ đã ghi nhận,
mROS tham ra điều hòa rất nhiều các quá trình sinh học như cảm biến oxy, tự thực
bào, các đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và thu được. phân bào và biệt hóa ở tế bào
gốc, cũng như các con đường tín hiệu hormone [24-28].
Một nhà khoa học từng đùa rằng “Nếu bạn không nghĩ ra được một
cơ chế nào, hãy nói nó là ROS”. Câu nói đùa trên cũng phần nào đề cập đến một
điểm rất đáng lưu ý, vì ROS liên quan đến rất nhiều các quá trình sinh học như
phân bào, biệt hóa, thích ứng chuyển hóa, lão hóa, mặc dù không có dấu hiệu cụ
thể nào cho thấy mROS có tham gia trong cá quá trình sinh học đó. Nhưng cần lưu
ý rằng các đích tác động của mROS có thể nằm ở bất kỳ đâu trong chất nền ty thể,
trong khoảng gian màng ty thể hoặc thậm chí trong tế bào chất. Hơn nữa, ở nồng
độ cao, ROS có thể gây độc nên mROS luôn được duy trì ở ngưỡng thấp, đủ để thực
hiện các phản ứng sinh học. Trong tế bào, lượng ROS sẽ thay đổi phụ thuộc vào
phản ứng sinh học nào đang diễn ra. Ví dụ quá trình biệt hóa ở tế bào gốc, hai
đặc điểm nổi bật của tế bào gốc là khả năng tự làm mới và khả năng biệt hóa thành
các mô chuyên hóa [29, 30]. Trên mô hình tế bào gốc, khi lượng ROR duy trì ở nồng
độ thấp, tế bào gốc bị bất hoạt, chúng chỉ tự làm mới và biệt hóa khi lượng ROS
trong tế bào tăng lên [31-33]. Ngưỡng ROS cao là điều kiện cần để tế bào gốc tự
làm mới và biệt hóa nhưng trong thời gian dài, yếu tố này sẽ khiến tế bào gốc bị
kiệt quệ [34]. Do đó, lượng ROS do ty thể sinh ra và đích tác động của chúng
trong các quá trình phân chia, biệt hóa và suy kiệt của tế bào gốc thực sự rất
quan trọng trong việc hệ thống các mô hình tế bào gốc.
Một phát hiện thú vị trong 2 thập kỷ qua là tìm ra vai trò của
tín hiệu mROS trong quá trình lão hóa. Ban đầu, người ta cho rằng, trong quá
trình lão hóa, các ty thể bị sai hỏng sẽ tạo ra tạo ra một lượng lớn ROS,từ đó
dẫn đến các thương tổn trên mô [35]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về chất chống
oxi hóa lại lại không ghi nhận khả năng kéo dài tuổi thọ của sinh vật mô hình
cũng như các tác dụng có ích nào trong điều trị các bệnh liên quan đến tuổi tác
của các chất chống oxi hóa [36]. Ngược lại, các thí nghiệm trên nấm Caenorhabditis elegans và chuột đã gợi
ý, lượng ROS do ty thể sinh ra có thể hoặc hóa các con đường stress của tế bào
và tăng tuổi thọ của tế bào [37-40]. Các nghiên cứu trong 2 thập kỷ qua đã cho
thấy, ở nồng độ thấp, mROS cần để duy trì các quá trình sinh học, trong khi nếu
lượng mROS tăng lên một chút sẽ kích hoạt các con đường nhằm thích ứng với
stress, mà chỉ với lượng mROS rất cao mớ gây chết tế bào hoặc lão hóa.
Màng ngoài ty thể như một vị trí gắn tín hiệu
Giữa những năm 1990, chúng ta đã chứng minh được rằng AKAP
có thể có liên quan chặt chẽ với màng ngoài ty thể, và trong những năm sau đó,
các motif đích trên màng ngoài có thể gắn với AKAP đã được làm sáng tỏ [4, 41].
AKAP gắn với các serine/threonine kinase PKA phụ thuộc cAMP và gắn PKA với các
protein đa tín hiệu để tạo nên hệ thống tín hiệu cho phép truyền tin đến các
đích cụ thể của tín hiệu hiệu phụ thuộc PKA [42]. Ý nghĩa sinh học của việc
AKAP gắn lên ty thể được chứng minh vào cuối những năm 1990, khi các nhà khoa học
thầy rằng các yếu tố giúp tế bào sống kihcs thích quá trình phosphoryl hóa phụ
thuộc PKA và bất hoạt BAD, một protein thuộc họ Bcl2 và liên kết đặc hiệu với màng ngoài ty thể
[3]. Đối với quá trình aopotosis, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra khi BAD gắn
lên ty thể, nó cũng điều hòa cân bằng glucose nội bào [43, 44]. Trong một thập
kỷ qua, tương tác giữa PKA, AKAP và ty thể được xem là đóng vai trò điều hòa
các quá trình chuyển hóa oxi hóa, nhân đôi và hợp nhất của ty thể và các đáp ứng
với tình trạng thiếu oxi [45, 46]. Điều này cho phép các tín hiệu của tế bào điều
khiển hoạt động của ty thể thông qua hệ thống PKA-AKAP-ty thể. AKAP không chỉ đóng vai trò là vị trí bám của
PKA, mà nó còn hoạt động như một protein điều hướng của các enzyme tín hiệu như
kinase và phosphatase [47]. Dó đó, vẫn có rất nhiều các con đường tín hiệu khác
phụ thuộc AKAP mà không phụ thuộc vào PKA cần được nghiên cứu.
Màng ngoài ty thể cũng đồng thời là vị trí gắn của các phức
hệ điều hòa đáp ứng miễn dịch. Vào giữa những năm 2000, một protein tín hiệu chống
virus của ty thể (MAVS) được phát hiện, đây là một adaptor của tín hiệu từ thụ
thể RIG [48]. RNA sợ đơn của virus được RIG-1 nhận biết và hoạt hóa interferon
loại I thông qua MAVS, một protein trên màng ngoài của ty thể [49, 50].
Interferon loại I (IFNα/β) được tiết ra ngay sau
khi tế bào nhiễm virus. Các tế bào bị nhiễm sẽ sản sinh ra IFNβ ngày sau khi sinh ra IFNα. Các interferon loại I
hoạt hóa các gene do chúng kiểm soát (ISG) cũng như con đường NF-κB. ISG mã hóa cho các
protien kháng virus và chỉ được hoạt động khi các tế bào lân cận bị nhiễm
virus. NK- κB hoạt
hóa khiến các cytokine và chemokine proinflammatory được tăng cường sản xuất, dẫn
đến sự tăng sinh các tế bào miễn dịch bẩm sinh cũng như đáp ứng T và B. Hiện tượng
này giúp các tế bào kiểm soát được quá trình xâm nhiễm của virus [51]. Gần đây,
màng ty thể cũng được ghi nhận là có
liên quan đến hoạt động chức năng của các phân tử miễn dịch bẩm sinh như NLR
và TLR [52-54]. Tuy nhiên, lý do vì sao các phân tử này lại cần phải liên kết với
màng ngoài ty thể vẫn chưa được làm sáng tỏ [55]. Bên cạnh đó, ROS từ ty thể
cũng đóng vai trò quan trọng trong các đáp ứng viêm và do đó, khống chế quá
trình sản xuất ROS của ty thể cũng có thể là một trong các lý do khiến các phức
hệ miễn dịch gắn lên màng ngoài ty thể [56, 57]. Ty thể, từ cộng sinh với tế
bào vật chủ, đã tiến hóa để trở thành một alpha-proteobacteria, và do đó, tế
bào có thể sử dụng dây chuyển – pathogen- ty thể - như một vũ khí chống lại các
nguồn gây bệnh từ bên ngoài.
Tín hiệu mất hoạt động chức năng ty thể
Ở trên, tôi đã mô tả vai trò tín hiệu của ty thể trong điều
kiện bình thường. Tuy nhiên, sẽ ra sao khi ty thể bị mất hoạt động chức năng. Mất
hoạt động chức năng ty thể được định nghĩa là khi ty thể không chuyển hóa và tạo
ATP, hay xuất/nhập protein, hiện tượng này xảy ra khi một chất, ví dụ như oxy,
không đủ cho chu trình ETC hoặc các biến đổi di truyền dẫn đến sự mất cân bằng
protein ty thể. Vậy làm thế nào mà một ty thể bị mất hoạt động chức năng có thể
liên lạc với phần còn lại của tế bào? Minh chứng đầu tiên ghi nhận mối liên lạc
này bắt nguồn từ giữa những năm 1990, khi một công trình ghi nhận, việc mất DNA
ty thể sẽ kích thích nhân phiên mã các protein heat shock (HSP) ty thể mà không
phải là HSP tế bào chất [5]. Đến cuối những năm 1990, một báo cáo khác cũng cho
thấy khi điện thế màng ty thể giảm mạnh sẽ làm tăng nồng độ canxi ở tế bào chất,
thí nghiệm này cho thấy khi không có DNA ty thể, tế bào sẽ kích hoạt các con đường
tín hiệu liên quan [6]. Các nghiên cứu sau này cũng chứng minh, khi tích tụ một
lượng lớn unfold protein trên chất nền ty thể cũng kích thích biểu hiện các
gene mã hóa HSP ty thể, hiện tượng này được gọi là đáp ứng mtUPR [58]. Ý nghĩa
thực sự của đáp ứng này chỉ bắt đầu được giải đáp từ cuối những năm 2000 khi
làm thí nghiệm trên C. elegans [59,
60]. Các nghiên cứu tiếp dó cũng chứng minh khi ty thể mất hoạt động chức năng,
nó kích hoạt mtURP, làm tăng tuổi thọ của C.elegans
[61, 62]. Rối loạn chức năng ty thể ở mức độ nhẹ có thể kích thích tế bào gây
ra các đáp ứng stress, nếu tình trạng này kéo dài có thể khiến tế bào loại bỏ
ty thể thông qua quá trình mitophagy [63]. Một tế bào có chứa một tập hợp các
ty thể có hoạt động động chức năng và mất hoạt động chức năng, các ty thể mất
hoạt động chức năng sẽ gửi đi tín hiệu kích thích tế bào đáp ứng stress ví dụ
như tăng sinh HSP ty thể, quá trình này chỉ dừng lại khi các ty thể sai hỏng bị
loại bỏ bởi mitophagy (Hình 3). Khi mitophagy gặp sự cố, nó sẽ gây tích tụ nhiều
ty thể mất hoạt động chức năng trong tế bào, dẫn đến sự mất ổn định lượng canxi,
tăng sinh mất kiểm soát ROS và mất khả năng chuyển và tạo ATP [64, 65].
Hình 3: Mất hoạt động chức năng ty thể dẫn đến Mitophagy và đáp ứng stress
Các phương pháp liên hệ mới giữa ty thể và tế bào
Chỉ trong vài năm qua, nhiều phương thức liên lạc mới giữa
ty thể và phần còn lại của tế bào được khám phá, bao gồm việc ty thể giải phóng
các sản phẩm chuyển hóa, hoạt hóa AMPK, và thay đổi động học ty thể. Ở đây, tôi
sẽ tóm tắt lại các hướng nghiên cứu mới. Các sản phẩm chuyển hóa có thể tham
gia vào kiểm soát dẫn truyền tín hiệu, đặc biệt là các quá trình acetyl hóa và
methyl hóa DNA và hisotn [66]. Ty thể cũng tạo ra acetyl-CoA và S-Adenosylmethionine
(SAM) để hỗ trợ cho các phản ứng aceyl và methyl hóa này. Do đó, sự thay đổi đặc
điểm sinh học của ty thể có thể ảnh hưởng tới trạng thái biểu sinh của tế bào
[67-69]. Quá trình acetyl hóa này cũng có thể làm giảm khả năng xúc tác của các
enzyme chuyển hóa [70]. Khi ty thể mất khả năng tổng hợp ATP (ví dụ trong trạng
thái thiếu máu cục bộ), chúng có thể sinh ra các tín hiệu làm tăng lượng AMP và
adenosine, kết quả là hoạt hóa AMPK kinase, làm nhiều quá trình đồng hóa bị dừng
lại và thay vào đó là các quá trình dị hóa như autophagy được tăng cường để đảm
bảo nguồn cung cấp các chất chuyển hóa [71]. Adenosine được giải phóng ra có thể
tham gia kích hoạt các thụ thể G-protein [72, 73]. Do đó, các sản phẩm chuyển
hóa và adenosine nucleotide ngoài việc tham gia vào các hoạt động sinh tổng hợp
và sinh năng lượng, chúng cũng đồng thời hoạt động như một phân tử tín hiệu.
Các đặc điểm sinh học của ty thể đã nhanh chóng được làm
sáng tỏ trong những thập kỷ vừa qua, đem đến những cái nhìn mới mẻ về động học
ty thể [74]. Trong khi cơ chế phân tử giúp ty thể có khả năng di chuyển bên
trong tế bào vẫn cần được làm sáng tỏ, nhưng chúng ta biết rằng chắc hẳn quá
trình này cần sự điều hường của các phân tử tín hiệu [75]. Ví dụ, trong điều kiện
thiếu oxy, ty thể di chuyển gần tới nhân, cho phép giải phóng ROS vào nhân tế
bào, kích thích các gene liên quan phiên mã [76]. Ở các tế bào khỏe mạnh, ty thể
thường tồn tại ở dạng dài và liên kết với nhau để tạo dạng sợi, trong đó, tốc độ
phân mạch và hợp nhất được kiểm soát chặt chẽ [77]. Sự phân mạch quá mức sẽ phá
vỡ cấu trúc dạng sợi, tạo thành các điểm nhỏ và gây mất hoạt động chức năng ty
thể. Các nghiên cứ gần đây đã chứng minh, tốc độ hợp nhất và phân mạch ở ty thể
được điều tiếu thông qua các tín hiệu của tế bào. Ở tế bào phôi tim và tế bào gốc
phôi chuột, sự tăng hoạt độ của protein calcineurin phụ thuộc Ca2+
và tín hiệu Notch1 đã phá vỡ sự hợp nhất tạo mạch của ty thể, từ đó ngăn cẳn
quá trình biệt hóa từ tế bào gốc phôi thành tế bào cơ tim [78].
Cuối cùng, ty thể gắn vào các Subdomain của lưới nội chất hạt
(ER) thông qua MAM [79]. Ban đầu, MAM được cho là tham gia vào quá trình truyền
tín hiệu Ca2+ giữa ER và ty thể nhằm điều tiết lượng canxi nội bào
[80]. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần
đây lại cho thấy MAM điều khiển khả năng di chuyển cũng như hình dạng của ty thể,
ngoài ra còn điều hóa quá trình tạo ROS và ATP, autophage, ER stress và các tín
hiệu miễn dịch [81].
Tất cả các phương
thức liên hệ trên đây của ty thể được liệt kê và tóm tắt ở hình 4.
Hình 4: Các phương pháp liên hệ mới giữa ty thể và tế bào
Kết luận
Trong những thập
kỷ qua, đã có rất nhiều các khám phá khoa học về di truyền học ty thể, sinh học
tế bào và hóa sinh [82]. Các nghiên cứu trên đã mở ra cơ hiệu điều khiển các
con đường tín hiệu của tế bào ở trong cả điều kiện sinh lý và bệnh lý. Mặc dù
chúng ta đã làm sáng tỏ được một số phương thức truyền tín hiệu, nhưng vẫn còn
rất nhiều các khía cạnh nữa cần được làm sáng tỏ. Với những hiểu biết mới về
các con đường tín hiệu, hy vọng con người sẽ phát triển các liệu trình làm
thuyên giảm triệu chứng của các bệnh như tiểu đường, ung thư, thoái hóa thần
kinh, cũng như cung cấp những bằng chứng mới về quá trình tiến hóa của tế bào
nhân thực.
Tài liệu tham khảo
- Liu X, Kim CN, Yang J, Jemmerson R, Wang X: Induction of apoptotic program in cell-free extracts: requirement for dATP and cytochrome c. Cell 1996, 86:147–157.
- Chandel N, Maltepe E, Goldwasser E, Mathieu C, Simon M, Schumacker P: Mitochondrial reactive oxygen species trigger hypoxia-induced transcription. Proc Natl Acad Sci U S A 1998, 95:11715–11720.
- Harada H, Becknell B, Wilm M, Mann M, Huang LJ, Taylor SS, Scott JD, Korsmeyer SJ: Phosphorylation and inactivation of BAD by mitochondria-anchored protein kinase A. Mol Cell 1999, 3:413–422.
- Chen Q, Lin RY, Rubin CS: Organelle-specific targeting of protein kinase AII (PKAII). Molecular and in situ characterization of murine A kinase anchor proteins that recruit regulatory subunits of PKAII to the cytoplasmic surface of mitochondria. J Biol Chem 1997, 272:15247–15257.
- Martinus RD, Garth GP, Webster TL, Cartwright P, Naylor DJ, Hoj PB, Hoogenraad NJ: Selective induction of mitochondrial chaperones in response to loss of the mitochondrial genome. Eur J Biochem 1996, 240:98–103.
- Biswas G, Adebanjo OA, Freedman BD, Anandatheerthavarada HK, Vijayasarathy C, Zaidi M, Kotlikoff M, Avadhani NG: Retrograde Ca2+ signaling in C2C12 skeletal myocytes in response to mitochondrial genetic and metabolic stress: a novel mode of inter-organelle crosstalk. EMBO J 1999, 18:522–533.
- Rizzuto R, Brini M, Murgia M, Pozzan T: Microdomains with high Ca2+ close to IP3-sensitive channels that are sensed by neighboring mitochondria. Science 1993, 262:744–747.
- Wallace D: A mitochondrial paradigm of metabolic and degenerative diseases, aging, and cancer: a dawn for evolutionary medicine. Annu Rev Genet 2005, 39:359–407.
- Chandel NS, Budinger GR, Schumacker PT: Molecular oxygen modulates cytochrome c oxidase function. J Biol Chem 1996, 271:18672–18677.
- Chandel N, Budinger G, Choe S, Schumacker P: Cellular respiration during hypoxia. Role of cytochrome oxidase as the oxygen sensor in hepatocytes. J Biol Chem 1997, 272:18808–18816.
- Vander Heiden MG, Chandel NS, Williamson EK, Schumacker PT, Thompson CB: Bcl-xL regulates the membrane potential and volume homeostasis of mitochondria. Cell 1997, 91:627–637.
- Kluck RM, Bossy-Wetzel E, Green DR, Newmeyer DD: The release of cytochrome c from mitochondria: a primary site for Bcl-2 regulation of apoptosis. Science 1997, 275:1132–1136.
- Gross A, Jockel J, Wei MC, Korsmeyer SJ: Enforced dimerization of BAX results in its translocation, mitochondrial dysfunction and apoptosis. EMBO J 1998, 17:3878–3885.
- Irani K, Xia Y, Zweier JL, Sollott SJ, Der CJ, Fearon ER, Sundaresan M, Finkel T, Goldschmidt-Clermont PJ: Mitogenic signaling mediated by oxidants in Ras-transformed fibroblasts. Science 1997, 275:1649–1652.
- Sundaresan M, Yu Z, Ferrans V, Irani K, Finkel T: Requirement for generation of H2O2 for platelet-derived growth factor signal transduction. Science 1995, 270:296–299.
- Bae YS, Kang SW, Seo MS, Baines IC, Tekle E, Chock PB, Rhee SG: Epidermal growth factor (EGF)-induced generation of hydrogen peroxide. Role in EGF receptor-mediated tyrosine phosphorylation. J Biol Chem 1997, 272:217–221.
- Shigenaga MK, Hagen TM, Ames BN: Oxidative damage and mitochondrial decay in aging. Proc Natl Acad Sci U S A 1994, 91:10771–10778.
- Chandel NS, McClintock DS, Feliciano CE, Wood TM, Melendez JA, Rodriguez AM, Schumacker PT: Reactive oxygen species generated at mitochondrial complex III stabilize hypoxia-inducible factor-1alpha during hypoxia: a mechanism of O2 sensing. J Biol Chem 2000, 275:25130–25138.
- Chandel N, Trzyna W, McClintock D, Schumacker P: Role of oxidants in NF-kappa B activation and TNF-alpha gene transcription induced by hypoxia and endotoxin. J Immunol 2000, 165:1013–1021.
- Chandel N, Schumacker P, Arch R: Reactive oxygen species are downstream products of TRAF-mediated signal transduction. J Biol Chem 2001, 276:42728–42736.
- Nemoto S, Takeda K, Yu ZX, Ferrans VJ, Finkel T: Role for mitochondrial oxidants as regulators of cellular metabolism. Mol Cell Biol 2000, 20:7311–7318.
- Brand MD: The sites and topology of mitochondrial superoxide production. Exp Gerontol 2010, 45:466–472.
- Murphy M: How mitochondria produce reactive oxygen species. Biochem J 2009, 417:1–13.
- West AP, Shadel GS, Ghosh S: Mitochondria in innate immune responses. Nat Rev Immunol 2011, 11:389–402.
- Schroeder EA, Raimundo N, Shadel GS: Epigenetic silencing mediates mitochondria stress-induced longevity. Cell Metab 2013, 17:954–964.
- Collins Y, Chouchani ET, James AM, Menger KE, Cocheme HM, Murphy MP: Mitochondrial redox signalling at a glance. J Cell Sci 2012, 125:801–806.
- Sena LA, Chandel NS: Physiological roles of mitochondrial reactive oxygen species. Mol Cell 2012, 48:158–167.
- Hamanaka R, Chandel N: Mitochondrial reactive oxygen species regulate hypoxic signaling. Curr Opin Cell Biol 2009, 21:894–899.
- Sahin E, Depinho RA: Linking functional decline of telomeres, mitochondria and stem cells during ageing. Nature 2010, 464:520–528.
- Signer RA, Morrison SJ: Mechanisms that regulate stem cell aging and life span. Cell Stem Cell 2013, 12:152–165.
- Liu J, Finkel T: Stem cells and oxidants: too little of a bad thing. Cell Metab 2013, 18:1–2.
- Xu X, Duan S, Yi F, Ocampo A, Liu GH, JC IB: Mitochondrial regulation in pluripotent stem cells. Cell Metab 2013, 18:325–332.
- Hamanaka RB, Glasauer A, Hoover P, Yang S, Blatt H, Mullen AR, Getsios S, Gottardi CJ, DeBerardinis RJ, Lavker RM, Chandel NS: Mitochondrial reactive oxygen species promote epidermal differentiation and hair follicle development. Sci Signal 2013, 6:ra8.
- Liu J, Cao L, Finkel T: Oxidants, metabolism, and stem cell biology. Free Radic Biol Med 2011, 51:2158–2162.
- Harman D: Aging: a theory based on free radical and radiation chemistry. J Gerontol 1956, 11:298–300.
- Bjelakovic G, Nikolova D, Gluud LL, Simonetti RG, Gluud C: Mortality in randomized trials of antioxidant supplements for primary and secondary prevention: systematic review and meta-analysis. JAMA 2007, 297:842–857.
- Ristow M, Schmeisser S: Extending life span by increasing oxidative stress. Free Radic Biol Med 2011, 51:327–336.
- Hekimi S, Lapointe J, Wen Y: Taking a ‘good’ look at free radicals in the aging process. Trends Cell Biol 2011, 21:569–576.
- Liu X, Jiang N, Hughes B, Bigras E, Shoubridge E, Hekimi S: Evolutionary conservation of the clk-1-dependent mechanism of longevity: loss of mclk1 increases cellular fitness and lifespan in mice. Genes Dev 2005, 19:2424–2434.
- Schulz TJ, Zarse K, Voigt A, Urban N, Birringer M, Ristow M: Glucose restriction extends Caenorhabditis elegans life span by inducing mitochondrial respiration and increasing oxidative stress. Cell Metab 2007, 6:280–293.
- Huang LJ, Wang L, Ma Y, Durick K, Perkins G, Deerinck TJ, Ellisman MH, Taylor SS: NH2-Terminal targeting motifs direct dual specificity A-kinase-anchoring protein 1 (D-AKAP1) to either mitochondria or endoplasmic reticulum. J Cell Biol 1999, 145:951–959.
- Taylor SS, Zhang P, Steichen JM, Keshwani MM, Kornev AP: PKA: lessons learned after twenty years. Biochim Biophys Acta 1834, 2013:1271–1278.
- Gimenez-Cassina A, Garcia-Haro L, Choi CS, Osundiji MA, Lane EA, Huang H, Yildirim MA, Szlyk B, Fisher JK, Polak K, Patton E, Wiwczar J, Godes M, Lee DH, Robertson K, Kim S, Kulkarni A, Distefano A, Samuel V, Cline G, Kim YB, Shulman GI, Danial NN: Regulation of hepatic energy metabolism and gluconeogenesis by BAD. Cell Metab 2014, 19:272–284.
- Danial NN, Walensky LD, Zhang CY, Choi CS, Fisher JK, Molina AJ, Datta SR, Pitter KL, Bird GH, Wikstrom JD, Deeney JT, Robertson K, Morash J, Kulkarni A, Neschen S, Kim S, Greenberg ME, Corkey BE, Shirihai OS, Shulman GI, Lowell BB, Korsmeyer SJ: Dual role of proapoptotic BAD in insulin secretion and beta cell survival. Nat Med 2008, 14:144–153.
- Carlucci A, Lignitto L, Feliciello A: Control of mitochondria dynamics and oxidative
metabolism by cAMP, AKAPs and the proteasome. Trends Cell Biol 2008,
18:604–613. Chandel BMC Biology 2014, 12:34 Page 6 of 7 http://www.biomedcentral.com/1741-7007/12/3446.
- Kim H, Scimia MC, Wilkinson D, Trelles RD, Wood MR, Bowtell D, Dillin A, Mercola M, Ronai ZA: Fine-tuning of Drp1/Fis1 availability by AKAP121/ Siah2 regulates mitochondrial adaptation to hypoxia. Mol Cell 2011, 44:532–544.
- Esseltine JL, Scott JD: AKAP signaling complexes: pointing towards the next generation of therapeutic targets? Trends Pharmacol Sci 2013, 34:648–655.
- Seth RB, Sun L, Ea CK, Chen ZJ: Identification and characterization of MAVS, a mitochondrial antiviral signaling protein that activates NF-kappaB and IRF 3. Cell 2005, 122:669–682.
- Koshiba T: Mitochondrial-mediated antiviral immunity. Biochim Biophys Acta 1833, 2013:225–232.
- Belgnaoui SM, Paz S, Hiscott J: Orchestrating the interferon antiviral response through the mitochondrial antiviral signaling (MAVS) adapter. Curr Opin Immunol 2011, 23:564–572.
- Takeuchi O, Akira S: Pattern recognition receptors and inflammation. Cell 2010, 140:805–820.
- West AP, Brodsky IE, Rahner C, Woo DK, Erdjument-Bromage H, Tempst P, Walsh MC, Choi Y, Shadel GS, Ghosh S: TLR signalling augments macrophage bactericidal activity through mitochondrial ROS. Nature 2011, 472:476–480.
- Zhou R, Yazdi AS, Menu P, Tschopp J: A role for mitochondria in NLRP3 inflammasome activation. Nature 2011, 469:221–225.
- Robbins GR, Wen H, Ting JP: Inflammasomes and metabolic disorders: old genes in modern diseases. Mol Cell 2014, 54:297–308.
- Arnoult D, Soares F, Tattoli I, Girardin SE: Mitochondria in innate immunity. EMBO Rep 2011, 12:901–910.
- Tschopp J, Schroder K: NLRP3 inflammasome activation: The convergence of multiple signalling pathways on ROS production? Nat Rev Immunol 2010, 10:210–215.
- Nakahira K, Haspel JA, Rathinam VA, Lee SJ, Dolinay T, Lam HC, Englert JA, Rabinovitch M, Cernadas M, Kim HP, Fitzgerald KA, Ryter SW, Choi AM: Autophagy proteins regulate innate immune responses by inhibiting the release of mitochondrial DNA mediated by the NALP3 inflammasome. Nat Immunol 2011, 12:222–230.
- Hoogenraad NJ, Ward LA, Ryan MT: Import and assembly of proteins into mitochondria of mammalian cells. Biochim Biophys Acta 2002, 1592:97–105.
- Haynes CM, Petrova K, Benedetti C, Yang Y, Ron D: ClpP mediates activation of a mitochondrial unfolded protein response in C. elegans. Dev Cell 2007, 13:467–480.
- Nargund AM, Pellegrino MW, Fiorese CJ, Baker BM, Haynes CM: Mitochondrial import efficiency of ATFS-1 regulates mitochondrial UPR activation. Science 2012, 337:587–590.
- Durieux J, Wolff S, Dillin A: The cell-non-autonomous nature of electron transport chain-mediated longevity. Cell 2011, 144:79–91.
- Houtkooper RH, Mouchiroud L, Ryu D, Moullan N, Katsyuba E, Knott G, Williams RW, Auwerx J: Mitonuclear protein imbalance as a conserved longevity mechanism. Nature 2013, 497:451–457.
- Randow F, Youle RJ: Self and nonself: how autophagy targets mitochondria and bacteria. Cell Host Microbe 2014, 15:403–411.
- Breitenbach M, Rinnerthaler M, Hartl J, Stincone A, Vowinckel J, Breitenbach-Koller H, Ralser M: Mitochondria in ageing: there is metabolism beyond the ROS. FEMS Yeast Res 2013. doi:10.1111/1567-1364.12134.
- Gomes LC, Scorrano L: Mitochondrial morphology in mitophagy and macroautophagy. Biochim Biophys Acta 1833, 2013:205–212.
- Kaelin WG Jr, McKnight SL: Influence of metabolism on epigenetics and disease. Cell 2013, 153:56–69.
- Wellen KE, Hatzivassiliou G, Sachdeva UM, Bui TV, Cross JR, Thompson CB: ATP-citrate lyase links cellular metabolism to histone acetylation. Science 2009, 324:1076–1080.
- Shyh-Chang N, Locasale JW, Lyssiotis CA, Zheng Y, Teo RY, Ratanasirintrawoot S, Zhang J, Onder T, Unternaehrer JJ, Zhu H, Asara JM, Daley GQ, Cantley LC: Influence of threonine metabolism on S-adenosylmethionine and histone methylation. Science 2013, 339:222–226.
- Wang J, Alexander P, McKnight SL: Metabolic specialization of mouse embryonic stem cells. Cold Spring Harb Symp Quant Biol 2011, 76:183–193.
- Xiong Y, Guan KL: Mechanistic insights into the regulation of metabolic enzymes by acetylation. J Cell Biol 2012, 198:155–164.
- Hardie DG, Ross FA, Hawley SA: AMPK: a nutrient and energy sensor that maintains energy homeostasis. Nat Rev Mol Cell Biol 2012, 13:251–262.
- Antonioli L, Blandizzi C, Pacher P, Hasko G: Immunity, inflammation and cancer: a leading role for adenosine. Nat Rev Cancer 2013, 13:842–857.
- Colgan SP, Eltzschig HK: Adenosine and hypoxia-inducible factor signaling in intestinal injury and recovery. Annu Rev Physiol 2012, 74:153–175.
- Friedman JR, Nunnari J: Mitochondrial form and function. Nature 2014, 505:335–343.
- Campello S, Scorrano L: Mitochondrial shape changes: orchestrating cell pathophysiology. EMBO Rep 2010, 11:678–684.
- Al-Mehdi AB, Pastukh VM, Swiger BM, Reed DJ, Patel MR, Bardwell GC, Pastukh VV, Alexeyev MF, Gillespie MN: Perinuclear mitochondrial clustering creates an oxidant-rich nuclear domain required for hypoxia-induced transcription. Sci Signal 2012, 5:ra47.
- Chan DC: Fusion and fission: interlinked processes critical for mitochondrial health. Annu Rev Genet 2012, 46:265–287.
- Kasahara A, Cipolat S, Chen Y, Dorn GW 2nd, Scorrano L: Mitochondrial fusion directs cardiomyocyte differentiation via calcineurin and Notch signaling. Science 2013, 342:734–737.
- Hoppins S, Nunnari J: Mitochondrial dynamics and apoptosis–the ER connection. Science 2012, 337:1052–1054.
- Rizzuto R, Pinton P, Carrington W, Fay FS, Fogarty KE, Lifshitz LM, Tuft RA, Pozzan T: Close contacts with the endoplasmic reticulum as determinants of mitochondrial Ca2+ responses. Science 1998, 280:1763–1766.
- van Vliet AR, Verfaillie T, Agostinis P: New functions of mitochondria associated membranes in cellular signaling. Biochim Biophys Acta 2014.
- Nunnari J, Suomalainen A: Mitochondria: in sickness and in health. Cell 2012, 148:1145–1159.
Ty thể- Bào quan tín hiệu
Reviewed by Khoa học đời sống
on
tháng 3 03, 2020
Rating:
Reviewed by Khoa học đời sống
on
tháng 3 03, 2020
Rating:




